bong da.com.việt nam Khó khăn trong phát triển ngành lê gai Quý Châu và giải pháp

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 17/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về bong da.com.việt nam Khó khăn trong phát triển ngành lê gai Quý Châu và giải pháp

the thao24h bong da

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp lê gai đã phát triển nhanh chóng ở Quý Châu, nó đã có thành tích xuất sắc trong quá trình thúc đẩy "cuộc cách mạng công nghiệp nông thôn". Nó đã đạt được những kết quả chưa từng có trong việc trồng, chế biến và bán hàng, và đã đóng một vai trò quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và vươn lên khá giả toàn diện. Bài báo đã đánh giá thực trạng phát triển của ngành công nghiệp lê gai Quý Châu, đồng thời phân tích những tồn tại và vướng mắc trong việc trồng, chế biến, bán hàng, v.v., đồng thời đưa ra các giải pháp và đề xuất tương ứng, nhằm cung cấp thông tin tham khảo cho việc ra quyết định phát triển công nghiệp.

  

Từ khóa: công nghiệp lê gai, Quý Châu, kinh tế công nghiệp;

  

1. Thực trạng phát triển của ngành lê gai

  

Lê gai là một loài thực vật hoang dã có nguồn gốc từ Quý Châu, và nó đã được ghi nhận từ 400 năm trước. Từ những năm 1950, nhóm của Giáo sư Luo Dengyi từ Trường Cao đẳng Kỹ thuật và Nông nghiệp Quý Châu đã chủ trì tiến hành nghiên cứu có hệ thống về lê gai và phát hiện ra rằng quả lê gai rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng vitamin C cực cao, gấp khoảng 30 lần. của quả kiwi và gấp 100 lần quả chanh, gấp 500 lần quả táo. Với việc không ngừng đi sâu nghiên cứu khoa học, giá trị của lê gai đã dần được người dân công nhận và chính phủ cũng rất chú trọng phát triển ngành công nghiệp lê gai. Ngành công nghiệp lê gai Quý Châu đã xuất hiện ba lần vào cuối những năm 1980, giữa- Những năm 1990 và 10 năm trở lại đây. Làn sóng phát triển. Trong đó, 10 năm kể từ năm 2010 có thể được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất trong lịch sử của ngành lê gai. Năm 2019, diện tích trồng lê gai của Quý Châu là 1,76 triệu mu, tăng 210.000 mu so với năm trước, diện tích cho trái đạt 1 triệu mu. Sản lượng lê gai tươi 66.000 tấn. quả trong tỉnh là 260 triệu nhân dân tệ, 35 Công suất chế biến của xí nghiệp chế biến quả tươi của xí nghiệp chế biến lê gai là 138.000 tấn, công suất chế biến nước ép lê gai tươi là 96.000 tấn, và doanh thu bán hàng là 750 triệu nhân dân tệ, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Mười nghìn người đã tăng thu nhập và trở nên giàu có, với mức tăng bình quân đầu người là 1854 nhân dân tệ.

  

Hiện tại, hơn 95% lê gai ở Trung Quốc đến từ Quý Châu và 95% lê gai ở Quý Châu được trồng ở thành phố Liupanshui, tỉnh Qiannan, thành phố Anshun và thành phố Bijie (xem Bảng 1). Trong đó, diện tích trồng của thành phố Liupanshui là 1.111.848 mẫu Anh, chiếm khoảng 2/3 diện tích trồng lê gai của tỉnh; tỉnh Qiannan, thành phố Bijie và thành phố Anshun đã trồng lần lượt là 287.200, 187.365 và 88.963. Từ quan điểm của các quận (thành phố, huyện), thành phố Panzhou có diện tích trồng là 588.558 mẫu Anh, chiếm khoảng 1/3 diện tích trồng lê gai của tỉnh; Huyện Shuicheng có diện tích trồng là 437.828 mẫu Anh, chiếm khoảng 1% diện tích trồng lê gai của tỉnh. / 4. Có thể nói, thành phố Liupanshui là vùng trồng lê gai tập trung và lớn nhất cả nước và thậm chí trên thế giới (xem hình 1).

  

Bảng 1 Thống kê quy mô trồng ở các vùng sản xuất chính của tỉnh Quý Châu (2019)

  

2. Các vấn đề tồn tại

  

Mặc dù ngành công nghiệp lê gai của Quý Châu đã bắt đầu hình thành, mang lại hiệu quả xóa đói giảm nghèo tốt và chuỗi công nghiệp dần được cải thiện, nhưng vấn đề vẫn còn nổi cộm.

  

2.1 Phát triển rộng rãi bên trồng, tiêu chuẩn hóa và tiêu chuẩn hóa thấp

  

Một là việc trồng không đủ tiêu chuẩn. Một số huyện thiếu cán bộ hướng dẫn kỹ thuật chuyên môn nên ít người trồng trẻ hiểu kỹ thuật trồng và có khả năng chấp nhận tốt, hình thức trồng tương đối rộng rãi, năng suất thấp, kích thước và chất lượng không đồng đều, và hiệu quả đầu ra không cao. Thứ hai, trình độ quản lý cơ sở thấp và mức độ tiêu chuẩn hóa, tăng cường và tiêu chuẩn hóa chưa cao. Quy mô trồng lê của tỉnh trong thời gian ngắn đã tăng nhanh nhưng trình độ quản lý còn thiếu chặt chẽ, tỷ lệ đầu vào - đầu ra của một số cơ sở trồng lê gai chưa cao. Thứ ba là sự thiếu hụt “người định hình” công nghệ lê gai. Mặc dù tỉnh đã thành lập lớp đặc biệt về lê gai và tổ chuyên gia về lê gai, nhưng điều đó chỉ có thể định hướng cho sự phát triển của ngành từ tầm vĩ mô, và việc thiếu cán bộ kỹ thuật tuyến đầu ở cấp vi mô nên khó đạt được mục tiêu. trồng tiêu chuẩn hóa và tiêu chuẩn hóa. Thứ tư, việc vận chuyển chưa đủ tiêu chuẩn. Hầu hết các công ty trên địa bàn tỉnh đều sử dụng bao tải hoặc túi ni lông để vận chuyển lê gai sau khi hái, thay vì sử dụng sọt nhựa tiêu chuẩn, khiến lê gai bị hỏng và mất chất dinh dưỡng trong quá trình vận chuyển. Thứ năm, giống trồng đơn lẻ. Hiện tại, lê gai Quý Châu chủ yếu được trồng "Quýt số 5", diện tích trồng "Quýt số 5" và "Quýt số 7" chiếm 95% diện tích trồng của tỉnh. ngành công nghiệp lê.

  

2.2 Vấn đề không phù hợp giữa năng lực chế biến và quy mô trồng

  

Một là công suất xử lý không đủ ở một số quận. Thời gian chín của quả lê gai tươi ngắn, hàm lượng chất dinh dưỡng mất đi nhanh chóng sau khi hái, thường phải vận chuyển đến các công ty chế biến trong vòng 24 giờ để chiết xuất và bảo quản ở nhiệt độ thấp. Một số quận không có xí nghiệp chế biến hoặc không đủ năng lực chế biến để thu mua trái cây tươi trồng khắp quận, và trái cây tươi cần được vận chuyển đến những nơi xa khác. Ví dụ, ở quận Bijie Qianxi, do không có khả năng mua lại doanh nghiệp địa phương, một số quả lê gai từ quận Qianxi đã được vận chuyển đến thành phố Liupanshui để xử lý. Ví dụ khác, có hai doanh nghiệp chế biến lê gai ở huyện Changshun, năm 2019, họ thu mua và chế biến chưa đến 900 tấn quả tươi, các loại quả tươi khác trong huyện cần tìm thêm kênh bán hàng. Thứ hai, năng lực chế biến và bảo quản của các doanh nghiệp trong tỉnh không thể đáp ứng được sự tăng trưởng bùng nổ của sản lượng trái cây tươi. 35 doanh nghiệp chế biến lê gai trên địa bàn tỉnh có công suất chế biến khoảng 138.000 tấn lê gai tươi và 48.000 tấn lê gai. Năm nay, diện tích trồng lê gai của tỉnh dự kiến ​​đạt 2 triệu muỗm, thời gian hái thường là 3 năm, dựa vào năng suất 800 nghìn tấn / mu, dự kiến ​​sản lượng quả tươi sẽ đạt 800.000 tấn trong 3 năm. năm, quy mô xử lý và lưu trữ hiện có sẽ hoàn thiện. Không thể đáp ứng nhu cầu sau 3 năm.

  

2.3. Khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu

  

Thứ nhất, bản thân ngành công nghiệp lê gai là một ngành công nghiệp xóa đói giảm nghèo do chính phủ lãnh đạo, và sự phát triển của nó phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính phủ và khả năng cạnh tranh trên thị trường của chính nó là không đủ. Do vấn đề chi phí nên giá cả của sản phẩm lê gai nhìn chung còn cao, khó đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm chất lượng cao và sản phẩm giá rẻ. Thứ hai là không đủ đổi mới và định vị không rõ ràng. Sản phẩm lê gai chủ yếu là đồ uống, nước trái cây tươi, trái cây bảo quản và trái cây sấy khô. Sản phẩm mới không có quy mô lớn, cạnh tranh đồng nhất ở cấp thấp. Ngoài ra, bản thân lê gai có vị chua, đặc người bình thường khó chấp nhận Việc cải thiện mùi vị thông qua các chất phụ gia sẽ phá hủy dinh dưỡng Sản phẩm chưa bao giờ tìm được vị thế và điểm cân bằng cho riêng mình. Thứ ba là thiếu sự hỗ trợ về mặt lý luận cho việc tuyên truyền tác dụng của lê gai. Một số sản phẩm lê gai được quảng cáo rầm rộ về tác dụng, thiếu kiểm chứng khoa học về tác dụng hỗ trợ điều trị một số bệnh nên dễ bị người tiêu dùng nghi ngờ và phủ nhận, ảnh hưởng lớn đến uy tín của sản phẩm lê gai trên thị trường. . Thứ tư, tầm ảnh hưởng của thương hiệu còn yếu. Các thương hiệu sản phẩm Cili rất nhiều và phức tạp, đấu đá lẫn nhau, độ nhận diện trên thị trường thấp, không một thương hiệu nào có thể có được chỗ đứng vững chắc. Mặc dù trong những năm gần đây, dưới sự thúc đẩy của chính phủ, thương hiệu lê gai đã được thành lập, nhưng nó vẫn còn sơ khai và sức ảnh hưởng của nó còn tương đối yếu.

  

3. Các biện pháp đối phó và đề xuất

  

3.1. Cải thiện tiêu chuẩn hóa cơ sở và mức độ trồng quy mô lớn

  

Thứ nhất, thông qua lồng ghép các quỹ liên quan đến nông nghiệp, phải chuyển đổi cơ sở giống lê gai có năng suất thấp do quản lý, bảo vệ và các nguyên nhân khác để tăng sản lượng lê gai tươi và đạt mục tiêu năng suất cao. Hai là áp dụng hình thức “canh tác theo đơn đặt hàng” và xây dựng cơ sở trình diễn đạt tiêu chuẩn, quy mô lớn theo mô hình “công ty + hợp tác xã + nông dân”. Công ty chịu trách nhiệm về thị trường và đặt hàng thu mua, hợp tác xã chịu trách nhiệm tổ chức trồng, đa số nông dân tham gia hình thành cộng đồng lợi ích, thúc đẩy tăng thu nhập và của cải cho nông dân. Thứ ba là nâng cao trình độ quản lý và bảo vệ. Đối với các cơ sở chưa đạt tiêu chuẩn trồng rừng, áp dụng các biện pháp như trồng lại, chặt cây bụi và cỏ dại, tỉa cành, bón phân, phòng trừ sâu bệnh để nâng cao trình độ quản lý và bảo vệ, thúc đẩy phát triển quy mô lớn, tiêu chuẩn hóa và cơ sở công nghiệp hóa xây dựng. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật tuyến đầu, cán bộ quản lý tuyến, nhân viên phục vụ tuyến đầu, nâng cao chế độ đãi ngộ và địa vị xã hội, không ngừng phát triển và củng cố đội ngũ “người định cư”. Thứ tư là tăng cường vận chuyển trái cây tươi theo tiêu chuẩn. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng dây chuyền lạnh, tiêu chuẩn hóa khâu thu hoạch, đóng gói và vận chuyển trái cây tươi, tránh va đập, hư hỏng trái cây tươi trong quá trình vận chuyển, giảm thất thoát đồng thời ổn định chất lượng sản phẩm. Thứ năm, cần tăng cường quy hoạch lai tạo và trồng các loại giống. Trồng các giống đặc sản phù hợp theo các mục đích khác nhau và các môi trường trồng khác nhau, và lập kế hoạch trồng hợp lý theo điều kiện địa phương theo các mục đích khác nhau như ép trái cây, trái cây sấy khô, dược phẩm, nấu rượu, v.v. ngành công nghiệp lê gai từ mở rộng sang thâm canh, Từ loại hình quảng canh đến loại hình thâm canh.

  

3.2. Nuôi dưỡng các doanh nghiệp hàng đầu với trọng tâm là xây dựng các sản phẩm cạnh tranh

  

Đi theo con đường chế biến, nuôi trồng và giới thiệu các doanh nghiệp hàng đầu, mở rộng mạnh mẽ các ngành công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn, đẩy nhanh việc nâng cấp cơ cấu sản phẩm lê gai, tích cực xây dựng mô hình phát triển tổng hợp về sản xuất và tiếp thị. Một là tăng cường sự vun đắp của các doanh nghiệp hàng đầu. Lồng ghép nguồn lực ba cấp của tỉnh, thành phố và quận, huyện để tập trung vun đắp các doanh nghiệp hàng đầu, thúc đẩy tập trung thương hiệu, vốn, công nghệ cho các doanh nghiệp vượt trội, xây dựng nhóm các doanh nghiệp hàng đầu của lê gai tích hợp R&D, sản xuất và kinh doanh. . Thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn thông qua các doanh nghiệp hàng đầu.

  

Hai là tạo ra và phát triển một lô sản phẩm quả lê gai. Theo ý tưởng đẩy mạnh phát triển Cili đa lĩnh vực, toàn chuỗi, theo chiều sâu và hiệu quả cao, trau dồi thêm các sản phẩm dòng Cili, làm nổi bật đặc tính sản phẩm, làm phong phú và tối ưu hệ thống sản phẩm, tối ưu hóa cơ cấu sản phẩm, thiết lập và cải thiện hơn nữa các tiêu chuẩn liên quan, và tạo ra một loạt các sản phẩm hàng đầu Cao cấp, xanh và lành mạnh, với các sản phẩm hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.

  

3.3.Tiếp tục nâng cao khả năng xử lý và lưu trữ của doanh nghiệp

  

Thứ nhất là mở rộng quy mô các doanh nghiệp chế biến lê gai trên địa bàn tỉnh thông qua xúc tiến đầu tư, ... khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn, sạch, thông minh; thứ hai là tăng cường hỗ trợ công nghệ, nâng cao năng lực chế biến của các đầu doanh nghiệp; thứ ba là tăng khả năng lưu kho của doanh nghiệp Khả năng nâng cao năng lực bảo quản của doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức như hỗ trợ doanh nghiệp thành lập kho lạnh, thành lập kho lạnh công cộng tại các khu tập trung nông sản.

  

3.4.Tăng cường xây dựng thương hiệu và nâng cao khả năng mở cửa thị trường của công ty

  

Một là tăng cường xây dựng thương hiệu. Với khái niệm cốt lõi là "Guizhou Cili. King of Vitamin C", hãy tiếp tục tăng cường quảng bá thương hiệu, tiếp tục đặt các quảng cáo dịch vụ công của Cili trên CCTV, People's Daily Online, Guizhou Satellite TV, Guangzhou Satellite TV, v.v., và tăng cường xây dựng của thương hiệu công cộng "Quý Châu Cili", Để mở rộng ảnh hưởng của thương hiệu công cộng "Quý Châu Cili". Đồng thời, cần vun đắp thương hiệu doanh nghiệp. Các doanh nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp hàng đầu sẽ được hướng dẫn để đưa triết lý kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và các giá trị vào thương hiệu của mình, tăng cường xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và tăng cường quản lý thương hiệu công về nguồn gốc, chất lượng, thương hiệu và văn hóa. Phát huy hết vai trò là bộ phận chính của doanh nghiệp, không ngừng tăng cường công tác nghiên cứu thương hiệu, thiết kế thương hiệu, định vị thương hiệu và truyền thông thương hiệu, thực hiện sáng tạo thương hiệu mang tính khác biệt và đặc trưng, ​​cải tiến hệ thống quản trị thương hiệu. Thứ hai là tiếp tục tăng cường xây dựng mạng lưới tiếp thị ngoại tuyến. Đặt các quầy lê gai ở Wal-Mart, RT-Mart, Carrefour và các siêu thị lớn khác trên cả nước để khuyến khích các công ty thành lập các điểm phân phối tại các thành phố lớn trên cả nước. Thứ ba là sử dụng thương mại điện tử, người nổi tiếng trên Internet để đưa hàng hóa và các hình thức khác nhằm phát triển khả năng bán hàng trực tuyến của doanh nghiệp. Tận dụng triệt để các nền tảng thương mại điện tử và nền tảng xã hội để kể câu chuyện về Guizhou Cili, xây dựng thương hiệu Guizhou Cili, cải thiện kênh bán hàng trực tuyến Guizhou Cili và phát triển mạnh mẽ thị trường trực tuyến.

  

3.5. Cải thiện việc phân bổ các yếu tố để đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bền vững của ngành

  

Thành lập quỹ phát triển ngành lê gai, tăng cường đầu tư cơ sở sản xuất lê gai và công nghệ bảo quản nguyên liệu tại các vùng phù hợp, hỗ trợ chế biến và xúc tiến, quảng bá, mở rộng thị trường, nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, cải tạo cơ sở và xây dựng địa điểm trình diễn, xây dựng thương hiệu, và nền tảng Xây dựng, xúc tiến đầu tư trọng điểm và các dự án khác có lợi cho việc thúc đẩy phát triển ngành lê gai. Theo nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến và phát triển công nghiệp, triển khai một cách khoa học các yếu tố phát triển công nghiệp, phối hợp giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc về đất đai, vốn, nhân tài, các tiêu chuẩn hỗ trợ trong phát triển doanh nghiệp. Thúc đẩy việc khắc phục các yếu tố phát triển khác nhau như dịch vụ, chính sách, quỹ và cố gắng hết sức để đảm bảo sự phát triển của ngành công nghiệp lê gai.

  

người giới thiệu

  

  [1] Cha Qin, Zhang Xiangyu, Ruan Peijun, và các cộng sự. Đánh giá và suy nghĩ về tình hình hiện tại của ngành công nghiệp lê gai ở tỉnh Quý Châu[J]Y học Trung Quốc hiện đại, 2020,22 (1): 128-133.

  

  [2] Liu Ming, He Huan. Những vấn đề và giải pháp trong phát triển ngành công nghiệp lê gai ở Trung Quốc[J]Khoa học và Công nghệ Nông thôn, 2018 (33): 29-30.

  

  [3] Wang Weifang. Diễn giải tình hình nghiên cứu và triển vọng phát triển của sản phẩm lê gai[J]Nhân viên trang trại, 2019 (5): 51.

  

  [4] Li Jinghe, Guo En, Zhang Renhong. Nghiên cứu về con đường phát triển của ngành công nghiệp lê gai ở tỉnh Quý Châu[J].Lịch sử và đương đại, 2019 (3): 39-40.

  

  [5] Wang Yi, Li Guirong, Zhu Yi. Tiến trình nghiên cứu về thực phẩm lê gai[J]Nghiên cứu và Phát triển Thực phẩm, 2019,40 (18): 213-218.

  

  [6] Liu Xueying. Phân tích cụm công nghiệp Prickly Pear ở huyện Longli, tỉnh Quý Châu[J].Science Volkswagen, 2018 (12): 188.



Chúc các bạn đọc tin bong da.com.việt nam Khó khăn trong phát triển ngành lê gai Quý Châu và giải pháp vui vẻ!

Bài viết mới