nhan dinh bong da cua chuyen gia Đánh giá và phát triển mới nghiên cứu về diễn thuyết đàm phán kinh doanh quốc tế

  • Sự đóng góp
  • Thời gian cập nhật 17/10/2021
  • 3 readings
  • Rating 0
  • great
  • Step on

Giới thiệu về nhan dinh bong da cua chuyen gia Đánh giá và phát triển mới nghiên cứu về diễn thuyết đàm phán kinh doanh quốc tế

ket qia bong da

Tóm tắt: Nghiên cứu về diễn ngôn đàm phán kinh doanh nước ngoài hầu hết là nghiên cứu xuyên suốt, với phương pháp nghiên cứu phong phú và đa dạng, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các hoạt động giao tiếp kinh doanh đa văn hóa sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh. Nghiên cứu về các ngôn ngữ khác bắt đầu muộn và ít được chú ý hơn. Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Trung Quốc và nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây, trên thế giới ngày càng có nhiều nghiên cứu về đặc điểm của diễn ngôn đàm phán kinh doanh của Trung Quốc. diễn ngôn đàm phán kinh doanh. Nhìn từ kết quả hiện tại, nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh phản ánh xu hướng phát triển của nghiên cứu đa chiều với ngữ liệu thực là đối tượng nghiên cứu, ngữ liệu quy mô lớn làm nền tảng nghiên cứu và các dự án hợp tác với doanh nghiệp.


Từ khóa: diễn ngôn đàm phán kinh doanh; diễn ngôn tương tác; tiến độ nghiên cứu


Tác giả: Xie Qun, Zhan Yue (Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ, Văn học và Văn hóa Nga, Đại học Hắc Long Giang, Cáp Nhĩ Tân 150080; Đại học Hắc Long Giang, Cáp Nhĩ Tân 150080)


1. Giới thiệu


Nhà đàm phán nổi tiếng người Mỹ Hober Cohen từng nói: "Thế giới thực là một bàn đàm phán khổng lồ, và mọi người đều có thể trở thành một nhà đàm phán" (Sun Zhaochen và Yi Jilin 2003: 3-4). Từ tranh chấp lãnh thổ, xung đột sắc tộc giữa các quốc gia đến thương lượng trong cuộc sống hàng ngày, tất cả đều phản ánh vai trò của hoạt động thương lượng. Trong hoạt động đàm phán, các bên tham gia đàm phán không chỉ phải lấy lợi ích của mình làm điểm xuất phát, mà đàm phán nhiều hơn thông qua việc trao đổi quan điểm, cùng nhau tìm ra giải pháp mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học thường nghiên cứu đàm phán kinh doanh từ góc độ diễn ngôn, chú ý đến việc sử dụng diễn ngôn và các bình diện xã hội, đồng thời tiết lộ thành phần và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa đàm phán kinh doanh và diễn ngôn. Họ tin rằng đàm phán kinh doanh là một dạng hành vi xã hội, một "chuỗi các hành vi diễn ngôn có liên quan với nhau" (van Dijk 1997: 3). Chúng tôi cho rằng đặc điểm của đàm phán kinh doanh chủ yếu có hai khía cạnh sau: Thứ nhất, sự bình đẳng trong diễn ngôn của hai bên. Vì các hoạt động đàm phán kinh doanh chủ yếu nhằm theo đuổi lợi ích kinh tế, chúng tương đối ít bị hạn chế bởi các yếu tố xã hội khác, chẳng hạn như quyền lực và địa vị. Do đó, nó thể hiện sự bình đẳng mạnh mẽ trong việc sử dụng và lựa chọn diễn ngôn. Thứ hai, dựa trên mục đích, đàm phán là quá trình đàm phán dựa trên mục đích. Mục đích là thuộc tính cơ bản trong hoạt động của con người. Hoạt động đàm phán kinh doanh lấy lợi ích kinh tế làm mục đích cơ bản, là một quá trình tương tác diễn ngôn được định hướng bởi mục đích. Trong suốt quá trình, hai bên đã trao đổi về các chủ đề mà hai bên cùng quan tâm. Về bản chất, toàn bộ quá trình đàm phán là quá trình đàm phán có mục đích (Xie Qun 2014: 68). Trong những trường hợp cực đoan, một bên sẽ hoàn toàn chấp nhận mục đích của một bên, hoặc một bên sẽ bác bỏ hoàn toàn mục đích của bên kia. Trong nhiều trường hợp, nó là sự trung hòa và thỏa hiệp các mục tiêu tương ứng của cả hai bên. Do đó, chúng tôi tin rằng đàm phán kinh doanh là một quá trình đàm phán có mục đích, và đàm phán kinh doanh với các kết quả khác nhau tạo thành một chuỗi đàm phán có mục đích liên tục. Tóm lại, đàm phán kinh doanh là một quá trình diễn ngôn tương tác xoay quanh các mục đích kinh tế. Mục đích là động cơ và cơ sở của đàm phán, và diễn ngôn là sự tồn tại và phương tiện của đàm phán. Trong một môi trường nhất định, cả hai tác động lẫn nhau và tạo thành toàn bộ hoạt động đàm phán dưới sự lựa chọn và sử dụng của hai bên trong đàm phán.


2 Tổng quan về Diễn thuyết Đàm phán Kinh doanh


"Diễn ngôn kinh doanh đề cập đến giao tiếp bằng miệng và bằng văn bản của mọi người để hoàn thành công việc của họ trong các hoạt động kinh doanh, được coi là hành vi xã hội trong bối cảnh kinh doanh." (Bargiela-Chiappinietal. 2007: 1) Kinh doanh theo khía cạnh ngôn ngữ trong nghiên cứu hiện có Nghiên cứu diễn ngôn chủ yếu dựa trên phân tích hội thoại, ngữ dụng và lý thuyết hành động nói. Các học giả trong lĩnh vực kinh doanh hầu hết dựa trên nền tảng của chính họ, từ các khía cạnh đàm phán, quản lý hòa hợp (quản lý mối quan hệ) và nghiên cứu văn hóa, và phân tích vai trò và chức năng của chiến lược lời nói trong hoạt động kinh doanh.


Là một phần quan trọng của diễn ngôn kinh doanh, diễn ngôn đàm phán kinh doanh là sự tương tác bằng miệng giữa hai bên trong hoạt động đàm phán kinh doanh (Yan Ming et al. 2017: 79). Trước giữa những năm 1980, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh chủ yếu lấy hoạt động giảng dạy làm trung tâm. Vì vậy, nghiên cứu đàm phán kinh doanh hầu như ở trạng thái trống. Mãi đến năm 1986, chuyên khảo về nghiên cứu đàm phán kinh doanh của Lampi mới ra đời, kể từ đó, nghiên cứu đàm phán kinh doanh bắt đầu theo con đường dựa trên ngôn ngữ và ngày càng phát triển mạnh mẽ.


Là một thực tiễn xã hội dựa trên sự diễn đạt bằng ngôn ngữ, đàm phán kinh doanh trở thành một loại diễn ngôn. Loại tương tác bằng lời nói dựa trên nền tảng chuyên môn và bối cảnh thể chế thường được gọi là diễn ngôn thể chế. Giới học thuật thường tin rằng diễn ngôn thể chế khác với diễn thuyết hàng ngày. Nó thường xảy ra trong bối cảnh hoặc bối cảnh thể chế cụ thể và bị ảnh hưởng và hạn chế bởi các quy tắc của từng tổ chức, chẳng hạn như xét xử tòa án, thẩm vấn điều tra, đối thoại bác sĩ - bệnh nhân và tin tức các cuộc phỏng vấn. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận hàng ngày chủ yếu diễn ra trong các tình huống không chính thức và không bị giới hạn bởi địa điểm tổ chức và tư cách thành viên, chẳng hạn như các cuộc trò chuyện giữa bạn bè và các cuộc trò chuyện nhỏ giữa các thành viên trong gia đình. Một số học giả gọi diễn ngôn thể chế là "cuộc trò chuyện thực dụng" và diễn ngôn hàng ngày là "cuộc trò chuyện thông thường" (Eggins, Slade 1997: 20).


Đàm phán kinh doanh có một mục đích điển hình, và là một hoạt động giao tiếp với mục đích kinh tế là định hướng duy nhất. Đồng thời, bối cảnh đàm phán kinh doanh thường là các cuộc gặp gỡ trao đổi kinh doanh quy mô lớn như hội chợ kinh tế thương mại và các cuộc họp hợp tác kinh tế, có tính chất thể chế rõ ràng. Vì vậy, xét từ các đặc điểm cơ bản, đàm phán kinh doanh là diễn ngôn thể chế. Tuy nhiên, chính vì lợi ích kinh tế là động lực duy nhất cho các hoạt động kinh doanh nên vai trò của bản sắc và quyền trong các cuộc đàm phán kinh doanh là tương đối nhỏ, do đó làm cho các cuộc đàm phán kinh doanh và tương tác với tòa án, điều tra và thẩm vấn và các cuộc thảo luận thể chế khác khá khác nhau. Theo lý thuyết tương đồng gia đình được đưa ra bởi Wittgenstein trong thời kỳ sau đó, sự mở rộng của khái niệm không có ranh giới rõ ràng như truyền thống vẫn tin tưởng. Ngược lại, ranh giới giữa chúng bị xóa nhòa. Bài viết này tin rằng mối quan hệ giữa các kiểu diễn ngôn khác nhau trong phạm trù diễn ngôn thể chế cho thấy những điểm tương đồng về gia đình. Chúng tôi “không thấy tất cả những hoạt động này có điểm chung gì, nhưng bạn sẽ thấy những điểm tương đồng, mối quan hệ họ hàng, và toàn bộ chuỗi những điều đó” (Wittgenstein 2005: 37). Trên cơ sở này, do sự không rõ ràng giữa diễn ngôn thể chế và phạm trù diễn ngôn hàng ngày, diễn ngôn đàm phán kinh doanh nằm trong vùng mờ giữa diễn ngôn thể chế và diễn ngôn hàng ngày. Nó không chỉ có những đặc điểm cơ bản của diễn ngôn thể chế mà còn có tính chất sức mạnh của diễn ngôn hàng ngày.Đặc điểm. Bài báo này tin rằng diễn ngôn đàm phán kinh doanh là một diễn ngôn thể chế không điển hình, với các đặc điểm của diễn ngôn hàng ngày.


3 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài


Tương tự như nhiều loại hình nghiên cứu diễn ngôn khác, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh bắt đầu sớm hơn ở nước ngoài. Do ảnh hưởng của quá trình quốc tế hóa tiếng Anh, hầu hết các nghiên cứu nghị luận kinh doanh hiện nay đều sử dụng tiếng Anh làm đối tượng nghiên cứu, và kết quả tương đối phong phú. Năm 1935, Hoa Kỳ đã đi đầu trong việc thành lập Hiệp hội Giao tiếp Kinh doanh và thành lập tạp chí - BusinessCommunication hàng quý, là một ấn phẩm có thẩm quyền về nghiên cứu giao tiếp trong kinh doanh. Trong quá trình phát triển, "nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh chịu ảnh hưởng của phân tích diễn ngôn, phân tích hội thoại, ngữ dụng tương tác, dân tộc học, lý thuyết thể loại và giao tiếp tổ chức" (Bargiela-Chiappinietal. 2007: 4). Bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của lý thuyết ngôn ngữ, việc nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh cũng đã trải qua một quá trình từ mục đích giảng dạy đến mục đích diễn ngôn tự thân. Với sự đi sâu nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa các kiểu diễn ngôn, diễn ngôn đàm phán kinh doanh đã dần đi vào tầm ngắm của các nhà nghiên cứu.


3. Nghiên cứu về các diễn ngôn kinh doanh trong thế kỷ 120


3.1 Nghiên cứu trước những năm 190


Trước giữa những năm 1980, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh chủ yếu lấy hoạt động giảng dạy làm trung tâm. Do đó, các nghiên cứu về đàm phán kinh doanh hầu như ở trạng thái trống, và có rất ít nghiên cứu về giao tiếp trong thương lượng (Putnam, Jones 1982) và các chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong đàm phán (Donohue, Diez 1985). Mãi đến năm 1986, chuyên khảo chuyên khảo về nghiên cứu đàm phán kinh doanh của Lampi mới ra đời. Lampi (1986) là nhà tiên phong trong việc nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh. Nó tiến hành phân tích diễn ngôn vi mô đa cấp về đàm phán kinh doanh của Anh và xây dựng một nghiên cứu lấy ngôn ngữ làm trung tâm về kinh doanh và quan hệ quốc tế. Cô ấy tập trung vào các đặc điểm diễn ngôn của chiến lược hiện thực hóa, tập trung vào hành vi, các bước ngôn ngữ, thư từ và các giai đoạn trong cuộc đàm phán.


3.1 Nghiên cứu trong những năm 290


Trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, nhiều nghiên cứu dựa trên ngôn ngữ đã xuất hiện trong những năm 1990 (Ehlich, Wagner 1995; Firth 1995; Neumann 1991, 1994). Trong đó, tiêu biểu nhất là hai tuyển tập tiểu luận của Firth (1995), Ehlich và Wagner (1995). Việc xuất bản hai cuốn sách này đánh dấu sự mở rộng liên tục của phân tích diễn ngôn và ảnh hưởng thực dụng trong nghiên cứu diễn ngôn ở nơi làm việc. Khác với các nghiên cứu trước đây về diễn ngôn đàm phán kinh doanh, Firth (1995) bao gồm 14 bài báo coi đàm phán kinh doanh là diễn ngôn để thực hiện nghiên cứu, và chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên diễn ngôn (được ngữ cảnh hóa) để nghiên cứu diễn ngôn đàm phán. Ehlich và Wagner (1995) đã phản hồi lại nghiên cứu của Firth bằng cách thực hiện một phân tích vi mô về các tương tác kinh doanh thực hoặc mô phỏng bằng tiếng Hà Lan, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh Mỹ, tiếng Anh Anh và tiếng Anh Úc. Lampi (1990) đã nghiên cứu tác động của kế hoạch của công ty đối với đàm phán và đối thoại, phân tích một cách có hệ thống các yếu tố ngữ cảnh của tương tác nghiên cứu trong các tình huống kinh doanh và "bù đắp một phần cho sự thiếu kết hợp giữa nghiên cứu kinh doanh theo ngữ cảnh và nghiên cứu văn bản ngôn ngữ" (Charles Năm 1996: 20). Trên cơ sở đó, Charles (1996) đã áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu đàm phán kinh doanh, cho thấy việc lựa chọn ngôn ngữ trong bối cảnh đàm phán có liên quan trực tiếp và chặt chẽ đến mối quan hệ kinh doanh giữa hai bên. Các biên tập viên nhận thấy rằng giới học thuật dần dần quan tâm đến nghiên cứu đàm phán kinh doanh. Tuy nhiên, nghiên cứu về tương tác và tài liệu âm thanh liên quan đến các vấn đề như thu thập ngữ liệu, độ nhạy và chuyển ngữ, điều này thường làm tăng độ khó của nghiên cứu này.


Có thể thấy rằng các nghiên cứu về diễn ngôn đàm phán kinh doanh trước thế kỷ 20 hầu hết sử dụng ngữ liệu mô phỏng và ngữ liệu nhân tạo làm đối tượng nghiên cứu, và hầu hết chúng bắt đầu từ các góc độ tổ chức, quản lý, văn hóa và dân tộc học, và chưa quan tâm đúng mức đến đặc điểm của ngôn ngữ.


3.2 Nghiên cứu đầu thế kỷ 21


Sau khi bước vào thế kỷ 21, mặc dù các nhà nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh vẫn gặp khó khăn với việc thu thập tài liệu và các vấn đề khác, với kinh nghiệm nghiên cứu phong phú, các học giả đã có được một mức độ kinh nghiệm nghiên cứu dân tộc học nhất định trong nghiên cứu diễn ngôn doanh nghiệp và thể chế, và các nhà nghiên cứu và công ty đã xuất hiện Các dự án hợp tác đồng xây dựng. Đồng thời, lĩnh vực nghiên cứu về diễn ngôn kinh doanh cũng từng bước phát triển từ sự “nổi trội” của tiếng Anh đến “trăm hoa đua nở” bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học ngữ liệu, nhiều học giả đã đến các doanh nghiệp để thu thập ngữ liệu với tư cách là người quan sát, thực hiện phỏng vấn và khảo sát bảng câu hỏi với những người tham gia, cố gắng nắm bắt quy trình đàm phán kinh doanh một cách toàn diện và ba chiều nhất có thể, và thiết lập hoạt động kinh doanh quy mô lớn. diễn ngôn đàm phán Corpus.


3.21 Nghiên cứu ngữ liệu tiếng Anh thương mại sớm nhất


Business English Corpus (BEC) do Nelson thành lập (2000) có tổng cộng 1,02 triệu từ, trong đó 56% là ngữ liệu viết và 44% là ngữ liệu nói. Kho ngữ liệu ngôn ngữ nói bao gồm 4 kho ngữ liệu đàm phán kinh doanh với tổng số 126,243 từ. Ông kêu gọi nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh với ngữ liệu thực làm đối tượng, sử dụng phần mềm WordsmithTools3 để so sánh BEC với kho dữ liệu công khai (PMC) và British National Corpus (BNC), chủ yếu từ việc lựa chọn tiếng Anh thương mại và từ vựng tiếng Anh hàng ngày, và kinh doanh trong Tôi đã tiến hành nghiên cứu sự so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Anh thương mại trong các tài liệu được xuất bản công khai và nhận thấy rằng: về tần suất sử dụng từ vựng, tiếng Anh thương mại không khác nhiều so với tiếng Anh hàng ngày và chỉ chiếm một phần nhỏ trong số lượng từ vựng xuất hiện thường xuyên hơn. Tuy nhiên, ngôn ngữ được sử dụng trong thực tế kinh doanh khác biệt đáng kể so với ngôn ngữ được sử dụng trong sách giáo khoa kinh doanh. Có sự khác biệt lớn về mức độ lịch sự, mẫu câu và mẫu câu. Nghiên cứu của Nelson lần đầu tiên sử dụng ngữ liệu để chỉ ra các quy tắc sử dụng ngôn ngữ của tiếng Anh thương mại và ở một mức độ nhất định minh họa những vấn đề tồn tại giữa thực tiễn kinh doanh và giảng dạy kinh doanh. Vì vậy, trên cơ sở tổng kết nghiên cứu của bản thân, cuốn “Từ vựng tiếng Anh thương mại” do Nelson biên soạn cung cấp tài liệu tham khảo tốt cho việc giảng dạy và thực hành kinh doanh sau này. Quan trọng nhất, nghiên cứu của Nelson (2000) đã mở đầu cho xu hướng nghiên cứu ngữ liệu tiếng Anh thương mại.


3.22 Nghiên cứu ngữ liệu tiếng Anh thương mại lớn nhất


Năm 2010, Handford xuất bản một luận án tiến sĩ đã được sửa đổi có tên là “Ngôn ngữ của các cuộc họp kinh doanh” (The Language of Business Meetings). Nghiên cứu dựa trên Cambridge and Nottingham Business English Corpus (CANBEC), được tài trợ bởi Cambridge Press và được tổ chức bởi các Giáo sư Ronald Carter và Michael McCarthy của Đại học Nottingham.


CANBEC hiện là kho ngữ liệu ngôn ngữ nói kinh doanh lớn nhất thế giới. Kho ngữ liệu bao gồm 64 bản ghi âm được thu thập từ 26 công ty của Anh, với tổng số từ là 912.734, giữ lại đầy đủ các đặc điểm ngôn ngữ về ngắt, ngắt và sửa trong kho ngữ liệu gốc. Là một phần của Cambridge and Nottingham English Discourse Corpus (Cambridge and Nottingham Corpus of Discourse English, CANCODE) và Cambridge International Corpus (Cambridge International Corpus, CIC), CANBEC sử dụng cùng một phương pháp xử lý chuyển ngữ, chú thích và ẩn danh, và có thể được phát triển bởi Đại học Cambridge. Phần mềm thực hiện truy xuất và xử lý. Thứ hai, trong phân loại ngữ liệu, trước tiên tác giả chia ngữ liệu thành hai loại: liên tổ chức và nội tổ chức, sau đó theo mối quan hệ giữa các bên tương tác, mục đích đàm phán, chủ đề đàm phán. Kho ngữ liệu được phân loại, và sau đó để người tương tác chọn danh mục mà ngữ liệu đó thuộc về, để tránh ảnh hưởng của người quan sát đến tính khách quan của kho ngữ liệu. Theo đặc điểm của diễn ngôn kinh doanh, Handford tích hợp các phương pháp phân tích diễn ngôn, ngữ pháp chức năng hệ thống, phương pháp tiếp cận đa mục tiêu (multi-target approach) và phương pháp ngữ liệu ngữ cảnh để xây dựng một khung phân tích duy nhất và chia phương pháp nghiên cứu thành 6 bước cụ thể: " (1) Thu thập và sao chép dữ liệu ngữ cảnh và ngữ cảnh có liên quan; (2) Xác định các đặc điểm ngôn ngữ quan trọng có thể có và phân loại chúng; (3) Phân tích sự lựa chọn và ý nghĩa của các từ trong một ngữ cảnh cụ thể; (4) Theo cách phát biểu Suy ra mục tiêu và thực hành mà người tham gia muốn đạt được; (5) Khi có thể, hãy xem xét các kiểu diễn ngôn và cấu trúc xã hội liên quan đến diễn ngôn; (6) Giải thích bản sắc xã hội theo ngữ cảnh và cách thực hiện của những người tham gia thông qua các đặc điểm ngôn ngữ này. Hoạt động xã hội "(Handford 2010: 39). Handford tin rằng diễn ngôn kinh doanh là một hành vi xã hội và phân tích của nó có thể tiết lộ cách mọi người đạt được mục tiêu của họ thông qua giao tiếp trong bối cảnh kinh doanh. Ông đã phân tích sâu về diễn ngôn tương tác trong kinh doanh từ các khía cạnh của thể loại đàm phán kinh doanh, từ vựng, các dấu hiệu diễn ngôn và tương tác, ngôn ngữ giữa các cá nhân và cách tiếp cận, đồng thời đưa ra nhiều gợi ý tham khảo cho việc giảng dạy tiếng Anh thương mại.


Handford (2010) dựa trên các tương tác kinh doanh thực tế và tiết lộ cơ chế hoạt động của Cộng đồng Diễn ngôn Kinh doanh bằng cách phân tích việc sử dụng diễn ngôn giữa hai bên. Lấy nghiên cứu này làm ví dụ, tác giả chỉ ra những ưu điểm của nghiên cứu dựa trên ngữ liệu thực từ ba khía cạnh: người học, tài liệu giảng dạy và sự phát triển của ngữ liệu đặc biệt phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu dựa trên Corpus. Cuốn sách không chỉ có ngữ liệu mới lạ và cách phân loại chi tiết mà còn có những đột phá nhất định trong nghiên cứu thể loại. Nó sử dụng kết hợp các phương pháp định lượng và định tính để nghiên cứu các thể loại tương tác kinh doanh và đề xuất các thành phần định lượng vi mô, điều hiếm thấy trong các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là trong nghiên cứu diễn ngôn thể chế. Tác giả sử dụng công nghệ ngữ liệu, bắt đầu từ cấp độ từ vựng, suy luận và xây dựng cấu trúc thể loại vĩ mô từ những quan sát vi mô, chỉ ra thành phần cơ bản của các loại thể loại tương tác kinh doanh. Nhược điểm của cuốn sách này là do hạn chế của công nghệ ngữ liệu nên việc nghiên cứu chủ yếu ở cấp độ từ và khối, chưa khám phá được các cấp độ ngôn ngữ khác như cú pháp, thì, giọng, nhưng điều này không ảnh hưởng đến nền tảng của nó Nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh dựa trên ngữ liệu đã đạt đến cao trào.


3.3 Nghiên cứu trong 10 năm qua


Trước đây, nghiên cứu diễn ngôn phần lớn bị hạn chế bởi khó thu thập ngữ liệu và tốc độ phiên âm, tốc độ phát triển chậm và quy mô nhỏ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ ngữ liệu và công nghệ nhận dạng giọng nói, phương pháp nghiên cứu diễn ngôn đã có những thay đổi lớn, tốc độ nghiên cứu cũng được nâng cao hơn rất nhiều. Kho ngữ liệu diễn ngôn kinh doanh với nhiều quy mô khác nhau đã lần lượt xuất hiện, và ngày càng có nhiều nghiên cứu về diễn ngôn kinh doanh dựa trên ngữ liệu thực tế. Östman và Verschueren (2009) đã nghiên cứu hành vi thực dụng tương tác trong đàm phán kinh doanh dựa trên ngữ dụng tương tác, tập trung vào phong cách giao tiếp, kiểu hội thoại, ưu điểm và trình tự hội thoại. Nghiên cứu như vậy làm cho trọng tâm của diễn ngôn đàm phán kinh doanh thay đổi từ một nhà đàm phán đơn lẻ sang mối quan hệ tương tác giữa hai bên, tức là tính chủ thể tương tác và chủ thể giữa hai bên. Thứ hai, với tốc độ phát triển không ngừng của nền kinh tế Trung Quốc và nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu quốc tế về đặc điểm diễn ngôn đàm phán kinh doanh của Trung Quốc. Mặc dù bị hạn chế bởi ảnh hưởng của ngôn ngữ, nghiên cứu quốc tế hiện nay về đặc điểm diễn ngôn đàm phán kinh doanh của Trung Quốc vẫn chủ yếu từ bàn tay của người Trung Quốc, nhưng ngày càng có nhiều bài báo liên quan được xuất bản ở một mức độ nhất định để hỗ trợ nghiên cứu của cộng đồng học thuật quốc tế về Diễn ngôn đàm phán kinh doanh của Trung Quốc. Là một nghiên cứu đại diện, Yang (2012) đã khám phá các quy ước và chức năng gắn kết xã hội của các chiến lược ngôn ngữ trong các cuộc đàm phán kinh doanh ở Trung Quốc. Trên cơ sở này, một số học giả đã tiến hành các nghiên cứu so sánh nội bộ và giữa các nền văn hóa về diễn ngôn đàm phán kinh doanh của Trung Quốc (Poncin2007, Shi2011, Zhu2011, Chang2012). Chang (2012) đã nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt trong phong cách đàm phán kinh doanh giữa người Đài Loan và người Trung Quốc ở Myanmar từ góc độ so sánh văn hóa phụ, và Zhu (2011) đã nghiên cứu các chiến lược ngôn ngữ và các bước để thiết lập các liên minh đa văn hóa trong cuộc họp kinh doanh ban đầu.


3.4 Các nghiên cứu không phải tiếng Anh


Sau khi bước vào thế kỷ 21, nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh cho các ngôn ngữ không phải tiếng Anh đã dần xuất hiện, và đối tượng nghiên cứu đã mở rộng sang tiếng Trung (tiếng Quan Thoại và tiếng Quảng Đông), tiếng Nhật và tiếng Ả Rập và các ngôn ngữ khác. Bargiela-Chiappini (2005, 2006) liên tiếp xuất bản hai số đặc biệt về nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh châu Á, liên quan đến tiếng Nhật, tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, v.v., cũng như một số nghiên cứu so sánh với tiếng Anh, đánh dấu sự trỗi dậy của nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh châu Á. Al-Ali (2004) so ​​sánh diễn ngôn kinh doanh của tiếng Ả Rập và tiếng Anh để thế giới có thể nghe thấy tiếng nói của thế giới Ả Rập. Nghiên cứu nước ngoài về giao tiếp kinh doanh của Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1990, với các nghiên cứu kinh tế, xã hội và thị trường ở giai đoạn đầu (như Blackman 1997; Fang 1997, 1999, v.v.). Các học giả thường tin rằng Trung Quốc có tiềm năng thị trường lớn, nhưng rất khó để giao tiếp với người Trung Quốc trong kinh doanh. Các học giả phương Tây tin rằng chiến lược giao tiếp của các doanh nhân đại lục là không thể đoán trước, có kỹ năng cao và có các chiến lược đàm phán độc lập, thường khó được những người từ các nền văn hóa khác chấp nhận. Kết quả là, nghiên cứu về diễn ngôn kinh doanh với ngôn ngữ là trọng tâm nghiên cứu đã ra đời (chẳng hạn như Shen2006, Zhu2011, v.v.). Yeung (2004) và các cộng sự so sánh diễn ngôn quản lý bằng tiếng Trung và tiếng Anh Úc, đây là một kiệt tác so sánh giữa tiếng Trung và các ngôn ngữ khác. Việc nghiên cứu tiếng Trung trong kinh doanh nước ngoài chủ yếu dựa trên sự so sánh, với mục đích chỉ ra sự khác biệt giữa chiến lược giao tiếp của Trung Quốc và phương Tây, đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của giao tiếp kinh doanh đa văn hóa.


4 Xu hướng phát triển của nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh


Hiện nay, nghiên cứu đàm phán kinh doanh dựa trên diễn ngôn đã bắt đầu hình thành ở nước ngoài, nhưng nghiên cứu trong nước vẫn còn tương đối lạc hậu. Các học giả kinh doanh bị giới hạn bởi các chuyên ngành của họ và thiếu cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học, trong khi các học giả ngôn ngữ học bị giới hạn bởi tính riêng tư của các hoạt động kinh doanh và rất khó để có được tài liệu xác thực. Đồng thời, sự đa dạng của các hoạt động kinh doanh khiến việc mô hình hóa chúng trở nên khó khăn. Những lý do này làm cho nghiên cứu về diễn ngôn đàm phán kinh doanh tương đối tụt hậu. Nhìn từ kết quả nghiên cứu hiện có, xu hướng phát triển của nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh chủ yếu được thể hiện trên ba khía cạnh sau.


4.1 Lấy tài liệu thực tế làm đối tượng nghiên cứu


Đàm phán kinh doanh là một cuộc tranh giành “quyền lợi”, một cuộc đấu khẩu tay đôi và một trò chơi trực diện giữa hai bên. Chính điều này đã làm cho việc lựa chọn ngôn ngữ trở nên rất quan trọng trong các cuộc đàm phán kinh doanh và ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của các cuộc đàm phán. Với việc đào sâu nghiên cứu đàm phán, các học giả đã dần phát hiện ra rằng có nhiều điểm hạn chế trong nghiên cứu dựa trên ngữ liệu mô phỏng và ngữ liệu nhân tạo. Thông thường, kết quả của loại nghiên cứu này không được áp dụng nhiều trong thực tế đàm phán, nguyên nhân là do ngữ liệu mô phỏng và ngữ liệu nhân tạo hầu hết được tạo ra theo suy đoán chủ quan của người nghiên cứu, mức độ phù hợp với tình hình thực tế không cao. Tuy nhiên, nghiên cứu diễn ngôn dựa trên ngữ liệu thực tế có thể tái tạo cách sử dụng diễn ngôn trong hoạt động đàm phán kinh doanh ở mức độ lớn nhất. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể định hướng cho thực tiễn đàm phán kinh doanh, là ví dụ điển hình cho sự chuyển hóa lẫn nhau giữa lý luận và thực tiễn.


4.2 Nghiên cứu đa chiều dựa trên kho ngữ liệu


Ở phương Tây, sự tiến bộ của các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu chưa bao giờ tách rời cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm. Sự nổi lên của ngôn ngữ học thư viện ngôn ngữ dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm làm cho ngôn ngữ học gần gũi hơn với khoa học tự nhiên. Vì vậy, trong thế kỷ 21, nghiên cứu ngôn ngữ dựa trên ngữ liệu đã trở thành xu hướng chính. Nghiên cứu như vậy có thể phản ánh chính xác hơn khả năng xảy ra của các hiện tượng ngôn ngữ trong thực tế sử dụng, và chỉ ra rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ và đời sống xã hội. Nghiên cứu của Nelson (2000) đã mở ra một tiền lệ cho việc nghiên cứu ngữ liệu diễn ngôn kinh doanh. Nghiên cứu của Handford (2010) đã mở rộng hơn nữa quy mô của ngữ liệu, và phạm vi nghiên cứu cũng vượt ra khỏi phạm vi từ vựng và dần tiến tới nhiều thứ nguyên vĩ mô hơn chẳng hạn như vị trí sắp xếp và thể loại. Với sự phát triển dần dần của nghiên cứu diễn ngôn đa phương thức, nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh sẽ tiếp tục sử dụng một lượng lớn kho ngữ liệu thực tế làm cơ sở nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp phân tích đa chiều và chỉ ra toàn diện hơn các phương thức hoạt động của diễn ngôn đàm phán trong đời sống. .


4.3 Các dự án hợp tác được xây dựng với doanh nghiệp


Việc phân tích hiện trạng nghiên cứu trong và ngoài nước đã giúp chúng tôi phát hiện ra rằng bản chất liên ngành của nghiên cứu diễn ngôn thể chế đòi hỏi sự tích hợp các bộ môn cho loại hình nghiên cứu này. Trong quá trình nghiên cứu, sự hợp tác lẫn nhau giữa hai hay nhiều ngành có thể bù đắp sự thiếu hụt kiến ​​thức của từng chuyên ngành, giúp cho việc nghiên cứu trở nên khoa học, hệ thống và chuyên nghiệp hơn. Theo khảo sát của tác giả, các nghiên cứu diễn ngôn thể chế nước ngoài chủ yếu dựa trên sự hợp tác giữa học giả và chính phủ hoặc doanh nghiệp. Chính phủ và các tổ chức tương ứng khác đảm bảo việc thu thập tài liệu. Sau khi các học giả hoàn thành nghiên cứu của riêng mình, họ sẽ gửi lại kết quả của mình cho các bộ phận liên quan để thực hiện việc chuyển đổi thành tích học tập và lợi ích thiết thực. Ví dụ, trong chuyến thăm của tôi đến Hồng Kông, tác giả đã phát hiện ra rằng một học giả nghiên cứu từ một trường đại học ở Hồng Kông đã nghiên cứu sự giao tiếp giữa nhân viên và quản lý bằng các ngôn ngữ mẹ đẻ khác nhau trong một công ty đa quốc gia sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ làm việc. Nghiên cứu về tình dục. Nhà nghiên cứu sẽ ký thỏa thuận hợp tác với công ty có liên quan trong giai đoạn đầu. Sau đó, kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại cho công ty và tổng hợp thành báo cáo để đào tạo cho các nhà quản lý của công ty, để họ có thể giao tiếp tốt hơn với nhân viên tại nơi làm việc và nâng cao Trình độ quản lý và hiệu quả công việc. Ở phương Tây, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh dần trở thành một chủ đề nóng trong nghiên cứu diễn ngôn thể chế, các nhà nghiên cứu thường hợp tác với các công ty lớn để áp dụng kết quả nghiên cứu vào đào tạo nguồn nhân lực của công ty, sau đó thu thập kho tài liệu đào tạo để nghiên cứu. Chu trình này lặp đi lặp lại và dần dần tạo thành vòng tròn vô vi. Do đó, đồng xây dựng với doanh nghiệp, chính phủ và các ban ngành khác sẽ trở thành xu hướng phát triển chính của nghiên cứu diễn ngôn đàm phán kinh doanh trong tương lai.


5 nhận xét kết luận


Tóm lại, nghiên cứu về diễn ngôn đàm phán kinh doanh nước ngoài chủ yếu mang tính xuyên suốt, với phương pháp nghiên cứu phong phú và đa dạng, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các hoạt động giao tiếp kinh doanh đa văn hóa sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ. Nghiên cứu về các ngôn ngữ khác bắt đầu muộn và ít được chú ý hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh nước ngoài đã có một quy mô đáng kể và đã trở thành một phần quan trọng của nghiên cứu diễn ngôn thể chế. Đồng thời, các học giả nước ngoài đã tiến hành các cuộc thảo luận đa chiều về diễn ngôn kinh doanh và thiết lập kho ngữ liệu quy mô lớn để tạo nền tảng tốt cho các nghiên cứu tiếp theo.


Ở nước ta, nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh đang cần phát triển cấp thiết, nhiều học giả vẫn coi diễn ngôn kinh doanh là một kỹ năng ngôn ngữ và tham gia nghiên cứu về xây dựng chủ đề và lý thuyết chương trình, do đó diễn ngôn kinh doanh vẫn chưa thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các học giả phân tích diễn ngôn. Ngược lại, nghiên cứu của Trung Quốc về diễn ngôn như tương tác giữa tòa án và tương tác giữa bác sĩ và bệnh nhân đã đạt được nhiều kết quả, và có nhiều công trình cấp cao. Hiện nay, nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển vượt bậc, ảnh hưởng quốc tế của nước này tiếp tục gia tăng và các cuộc tiếp xúc kinh doanh với các nước khác ngày càng trở nên thường xuyên hơn, điều này cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh. Thực tế của giao tiếp kinh doanh kêu gọi các học giả quan tâm hơn đến việc nghiên cứu diễn ngôn kinh doanh, để áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn kinh doanh, và nâng cao “quyền lực mềm” của các công ty Trung Quốc tham gia cạnh tranh quốc tế nói chung, vì vậy như để giành chiến thắng trong trận chiến và nghiên cứu về giao tiếp kinh doanh quốc tế của Trung Quốc.


Chúc các bạn đọc tin nhan dinh bong da cua chuyen gia Đánh giá và phát triển mới nghiên cứu về diễn thuyết đàm phán kinh doanh quốc tế vui vẻ!

Bài viết mới